Tag Archive

Tag Archives for " luat dau thau "
1

Thế nào là vốn nhà nước ngoài ngân sách?

Câu hỏi: Cho em hỏi trong Luật Xây dựng năm 2014 có cụm từ “vốn nhà nước ngoài ngân sách” nghĩa là thế nào? trong luật cũ không có cụm từ này? phân biệt thế nào về cụm từ “vốn ngân sách nhà nước” và “vốn nhà nước ngoài ngân sách”?

Bạn hỏi Dự thầu GXD trả lời:

Xem Luật Xây dựng 50/2014/QH13 phải kết hợp xem Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 các bạn nhé.

Khoản 44, Điều 4. Giải thích từ ngữ – Luật đấu thầu số 43/2013/QH13
44. Vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước; công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất.
Khi đọc khoản này, bạn sẽ thấy là đoạn từ chỗ dấu chấm phẩy (bôi màu xanh) trở đi là “vốn nhà nước ngoài ngân sách”.

Bạn xem khoản 4, Luật Đấu thầu ở đây http://duthaugxd.com/dau-thau/luat-dau-thau-so-43/dieu-4-giai-thich-tu-ngu-luat-dau-thau.html

Xử lý chuyển tiếp việc tổ chức lựa chọn nhà thầu của gói thầu đang thực hiện dở dang (theo Luật Đấu thầu 2013)

Tình huống: Dự án của Chủ đầu tư (CĐT) đã được phê duyệt kế hoạch đấu thầu trong tháng 6/2014, trong đó:

– Gói thầu xây lắp số 1 có giá gói thầu 04 tỷ đồng áp dụng hình thức chỉ định thầu, thời gian tổ chức lựa chọn nhà thầu là tháng 7-8/2014.

– Gói thầu mua sắm hàng hóa số 2 có giá gói thầu 0,9 tỷ đồng áp dụng hình thức chào hàng cạnh tranh, thời gian tổ chức lựa chọn nhà thầu trong tháng 8/2014.

Xin hỏi: Từ ngày 01/7/2014 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 (gọi tắt là Luật Đấu thầu 2013) có hiệu lực thi hành, nhưng đến ngày 15/8/2014 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (gọi tắt là NĐ số 63) mới có hiệu lực thi hành. Vậy, CĐT sẽ thực hiện chuyển tiếp như thế nào đối với 02 Gói thầu nêu trên để bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về đấu thầu?

Trả lời:

Đối với 2 gói thầu trên, do gói thầu đã phê duyệt kế hoạch đấu thầu nhưng đến ngày 01/7/2014 chưa phát hành hồ sơ yêu cầu thì theo Khoản 1 Điều 129 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, nếu có nội dung không phù hợp với Luật Đấu thầu năm 2013 thì CĐT phải trình người có thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh kế hoạch đấu thầu.

1. Đối với gói thầu xây lắp số 1: Tổ chức chỉ định thầu gói thầu có giá trị 04 tỷ đồng trong tháng 7-8/2014

Do trong Luật Đấu thầu 2013 không quy định hạn mức chỉ định thầu, mà hạn mức trên chỉ được quy định trong NĐ số 63 (Điều 54, khoản 1). Vì vậy, trường hợp HSYC của gói thầu này phát hành trước ngày 15/8/2014 thì gói thầu này áp dụng hình thức chỉ định thầu là phù hợp theo hạn mức chỉ định thầu quy định trong Nghị định số 85/2009/NĐ-CP. Nếu các nội dung khác của Gói thầu này trong kế hoạch đấu thầu đã phê duyệt phù hợp với Luật Đấu thầu năm 2013 thì không cần phê duyệt điều chỉnh kế hoạch đấu thầu.

Trường hợp HSYC của gói thầu này phát hành kể từ 15/8/2014 (ngày NĐ số 63 có hiệu lực), việc triển khai lựa chọn nhà thầu phải căn cứ theo Luật Đấu thầu 2013 và NĐ số 63 (Điều 129 Khoản 3), nghĩa là Gói thầu số 1 áp dụng hình thức chỉ định thầu không còn phù hợp với quy định của NĐ số 63 do: Hạn mức chỉ định thầu quy định tại Khoản 1 Điều 54 nghị định này có giá trị không quá 01 tỷ đồng đối với gói thầu xây lắp. Trường hợp này, CĐT phải thực hiện trình phê duyệt điều chỉnh kế hoạch đấu thầu đối với Gói thầu này bảo đảm tuân thủ theo quy định của Luật Đấu thầu 2013 và NĐ số 63.

2. Đối với gói thầu mua sắm hàng hóa số 2: Tổ chức chào hàng cạnh tranh gói thầu có giá trị 0,9 tỷ đồng trong tháng 8/2014

Luật Đấu thầu 2013 không quy định hạn mức chào hàng cạnh tranh, mà hạn mức trên chỉ được quy định trong NĐ số 63 (Điều 57, khoản 1). Tuy nhiên, hạn mức mới này cao hơn so với hạn mức chào hàng theo quy định cũ nêu tại Điểm a Khoản 1 Điều 22 của Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 và Điều 43 của Nghị định số 85/2009/NĐ-CP (không quá 5 tỷ đồng thay cho nhỏ hơn 2 tỷ đồng). Theo đó, trường hợp HSYC của Gói thầu này phát hành trước ngày 15/8/2014 thì gói thầu áp dụng hình thức chào hàng cạnh tranh là phù hợp, đồng thời nếu HSYC phát hành kể từ ngày 15/8/2014 thì việc áp dụng hình thức chào hàng cạnh tranh vẫn thỏa mãn quy định của của Luật Đấu thầu 2013 và NĐ số 63. Do đó, nếu các nội dung khác của gói thầu này trong kế hoạch đấu thầu đã phê duyệt phù hợp với Luật Đấu thầu 2013 thì không cần phê duyệt điều chỉnh kế hoạch đấu thầu.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 59 của NĐ số 63 đối với những gói thầu mua sắm hàng hóa có giá trị không quá 1 tỷ đồng được áp dụng theo quy trình chào hàng cạnh tranh rút gọn. Vì vậy, trường hợp gói thầu có hồ sơ yêu cầu phát hành kể từ ngày 15/8/2014 thì được áp dụng quy trình rút gọn theo quy định nêu trên; còn nếu hồ sơ yêu cầu phát hành trước ngày 15/8/2014, CĐT cần thực hiện lựa chọn nhà thầu theo quy trình chào hàng cạnh tranh quy định tại Điều 43 của Nghị định số 85/2009/NĐ-CP.

Theo Báo Đấu thầu số 140.

1

Xử lý chuyển tiếp đối với các dự án thực hiện dở dang khi Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 có hiệu lực

Dự án của đơn vị A là chủ đầu tư đã được phê duyệt kế hoạch đấu thầu trong tháng 02/2014. Tính đến hết ngày 30/6/2014, dự án đã tổ chức lựa chọn nhà thầu được 03 gói thầu với tiến độ thực hiện như sau:

– Gói số 1 và 2 đã phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu;

– Gói thầu số 3 đã phê duyệt hồ sơ mời thầu và đăng thông báo mời thầu đấu thầu rộng rãi trên Báo đấu thầu nhưng chưa phát hành hồ sơ mời thầu.

Câu hỏi: Từ 01/7/2014, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 đã có hiệu lực thi hành nhưng đến ngày 15/8/2014 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP mới có hiệu lực thi hành. Vậy, Chủ đầu tư A sẽ thực hiện chuyển tiếp thế nào đối với 03 gói thầu nêu trên để bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật đấu thầu?

Trả lời:

Điều 129 của Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ và Văn bản số 4054/BKHĐT-QLĐT ngày 27/6/2014 của Bộ Kế hoạch đầu tư đã hướng dẫn về vấn đề này. Để thuận tiện cho Chủ đầu tư A thực hiện Dự án đảm bảo tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật đấu thầu, cách xử lý đối với từng gói thầu thuộc Dự án cần thực hiện như sau:

1. Đối với Gói thầu số 1 và 2: Chủ đầu tư A đã phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 129 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, đối với hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu được phát hành trước 01/7/2014 thì thực hiện theo quy định của:

– Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 (gọi tắt là Luật Đấu thầu năm 2005), Luật sửa đổi, bổ sung số 38/2009/QH12

– Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009, Nghị định số 68/2012/NĐ-CP ngày 12/9/2012 của Chính phủ

– Quyết định số 50/2012/QĐ-TTg ngày 09/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ và các Thông tư liên quan.

Như vậy, do Gói thầu số 1 và 2 đã phát hành hồ sơ mời quan tâm hoặc hồ sơ mời sơ tuyển (trường hợp có bước lựa chọn danh sách ngắn); hồ sơ mời thầu trước ngày 01/7/2014 (ngày có hiệu lực của Luật Đấu thầu năm 2013) nên việc tổ chức lựa chọn nhà thầu, ký kết và quản lý hợp đồng thực hiện theo các quy định “cũ” như nêu trên. Đối với các trường hợp này, Chủ đầu tư A đơn thuần tuân thủ theo quy định của Luật Đấu thầu năm 2005, Luật sửa đổi năm 2009 và các văn bản hướng dẫn liên quan, mà không phải tuân thủ các quy định mới của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và Nghị định số 63/2014/NĐ-CP.

 2. Đối với Gói thầu số 3: đã phê duyệt HSMT và đăng thông báo mời thầu trên Báo đấu thầu nhưng chưa phát hành hồ sơ mời thầu

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 129 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, đối với những gói thầu đã phê duyệt kế hoạch đấu thầu nhưng đến 01/7/2014 chưa phát hành hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, nếu không phù hợp với Luật Đấu thầu 2013 thì phải phê duyệt điều chỉnh kế hoạch đấu thầu.

Hồ sơ mời thầu chỉ được phát hành khi kế hoạch lựa chọn nhà thầu được phê duyệt, hồ sơ mời thầu được phê duyệt, thông báo mời thầu được đăng tải theo quy định của Luật Đấu thầu năm 2013. Theo đó, gói thầu số 3 chưa phát hành hồ sơ mời thầu trước ngày 01/7/2014 nên phải tuân thủ quy định tại Khoản 1 Điều 19 nêu trên; tức là chủ đầu tư phải rà soát lại kế hoạch đấu thầu đã phê duyệt bao gồm nội dung chính là nguồn vốn, hình thức và phương thức lựa chọn nhà thầu, hình thức hợp đồng để xem xét có nội dung nào không phù hợp với quy định của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 hay không. Các quy định về những nội dung chính nói trên trong Luật năm 2013 có sự thay đổi so với quy định của Luật Đấu thầu năm 2005 (kích để xem thêm bài viết về nội dung này). Ví dụ: Chủ đầu tư A cần xác định lại xem Dự án của mình về nguồn vốn có thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu năm 2013 hay không, từ đó trình người có thẩm quyền quyết định việc lựa chọn áp dụng Luật năm 2013.

Như vậy, căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp Chủ đầu tư A rà soát lại kế hoạch đấu thầu đã phê duyệt thấy có nội dung không phù hợp với quy định của Luật Đấu thầu năm 2013 thì cần trình người có thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh kế hoạch đấu thầu đảm bảo tuân thủ quy định Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13. Quyết  định điều chỉnh này là cơ sở pháp lý để Chủ đầu tư A phê duyệt điều chỉnh hồ sơ mời thầu và gia hạn thời điểm đóng thầu đảm bảo phù hợp với quy định của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13Nếu rà soát mà thấy các nội dung trong kế hoạch đấu thầu đã phê duyệt không có nội dung không phù hợp với Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 thì thực hiện ngay quá trình đấu thầu rộng rãi theo quy định.

Theo báo Đấu thầu, số 139, ngày 14/7/2014.

Nghị định số 63/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật đấu thầu mới

Ngày 26/6/2014 Chính phủ  đã ban hành nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2014.

Các bạn kích vào link để tải file:

1. Luật Đấu thầu số  43/2013/QH13  ngày 26/11/2013 của Quốc hội

Nghị định số 63/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật đấu thầu mới

Luật đấu thầu số 43/2013/QH13

2. Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ hướng dẫn Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu (hoặc Link 2)

3. Văn bản số 4054/BKHĐT-QLĐT ngày 27/6/2014 hướng dẫn thực hiện chuyển tiếp Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 và Nghị định số 63/2014/NĐ-CP.

Chúc các bạn có các cuộc thầu thành công, tiết kiệm và hiệu quả.

Điều 20. Đấu thầu rộng rãi – Luật đấu thầu số 43/2013/QH13

1. Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong đó không hạn chế số lượng nhà thầu, nhà đầu tư tham dự.

2. Đấu thầu rộng rãi được áp dụng cho các gói thầu, dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này, trừ trường hợp quy định tại các điều 21, 22, 23, 24, 25, 26 27 của Luật này.

Điều 5. Tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhà đầu tư – Luật đấu thầu số 43/2013/QH13

1. Nhà thầu, nhà đầu tư là tổ chức có tư cách hợp lệ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Có đăng ký thành lập, hoạt động do cơ quan có thẩm quyền của nước mà nhà thầu, nhà đầu tư đang hoạt động cấp;

b) Hạch toán tài chính độc lập;

c) Không đang trong quá trình giải thể; không bị kết luận đang lâm vào tình trạng phá sản hoặc nợ không có khả năng chi trả theo quy định của pháp luật;

d) Đã đăng ký trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia;

đ) Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu theo quy định tại Điều 6 của Luật này;

e) Không đang trong thời gian bị cấm tham dự thầu;

g) Có tên trong danh sách ngắn đối với trường hợp đã lựa chọn được danh sách ngắn;

h) Phải liên danh với nhà thầu trong nước hoặc sử dụng nhà thầu phụ trong nước đối với nhà thầu nước ngoài khi tham dự thầu quốc tế tại Việt Nam, trừ trường hợp nhà thầu trong nước không đủ năng lực tham gia vào bất kỳ phần công việc nào của gói thầu.

2. Nhà thầu, nhà đầu tư là cá nhân có tư cách hợp lệ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định pháp luật của nước mà cá nhân đó là công dân;

b) Có chứng chỉ chuyên môn phù hợp theo quy định của pháp luật;

c) Đăng ký hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật;

d) Không đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

đ) Không đang trong thời gian bị cấm tham dự thầu.

3. Nhà thầu, nhà đầu tư có tư cách hợp lệ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được tham dự thầu với tư cách độc lập hoặc liên danh; trường hợp liên danh phải có văn bản thỏa thuận giữa các thành viên, trong đó quy định rõ trách nhiệm của thành viên đứng đầu liên danh và trách nhiệm chung, trách nhiệm riêng của từng thành viên trong liên danh.